06:42 ICT Thứ năm, 17/01/2019
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
  • Chúc mừng năm mới 2019 !
 

Chuyên mục

thành viên

Lượt truy cập

  • Đang truy cập: 43
  • Hôm nay: 620
  • Tháng hiện tại: 32237
  • Tổng lượt truy cập: 1834586

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu khoa học » Nghiên cứu trao đổi

Hệ thống cơ quan tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Thứ sáu - 07/12/2018 08:49

Chúng ta biết rằng, quyền tư pháp cùng với quyền lập pháp và quyền hành pháp hợp thành quyền lực nhà nước thống nhất của một quốc gia. Cơ quan tư pháp, với những đặc trưng riêng của quyền tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc do Hiến pháp và pháp luật quy định. Trên thực tế, khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật hoặc các sự kiện, tranh chấp…, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật để tiến hành xem xét, phân tích, đánh giá và đưa ra các phán quyết, đồng thời tổ chức thi hành các phán quyết có hiệu lực bắt buộc đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan nhằm bảo vệ, duy trì công lý và trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp lý cho công dân, sự ổn định và phát triển của xã hội. Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả đề cập đến các nội dung cơ bản cũng như có sự so sánh đối chiếu một số quy định về cơ quan tư pháp của nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào.

I. HỆ THỐNG CƠ QUAN TƯ PHÁP NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
1. Tòa án nhân dân
1.1. Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
1.1.1 Chức năng của Tòa án nhân dân
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.” Việc bổ sung quy định TAND thực hiện quyền tư pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định quyền lực nhà nước theo hướng quy định Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và TAND thực hiện quyền tư pháp.
Cũng theo quy định trên thì chức năng xét xử là chức năng của TAND, chỉ có TAND mới có chức năng xét xử.
Hoạt động xét xử của TAND có đặc điểm khác so với việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước khác như:
- Chỉ có TAND mới có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Tòa án đều nhân danh nước CHXHCN Việt Nam, bản án  và quyết định của Tòa án mang tính quyền lực nhà nước.
- Bản án, quyết định của TAND mang tính bắt buộc đối với bị cáo hoặc các đương sự cho nên hoạt động xét xử của Tòa án phải tuân theo các thủ tục tố tụng nghiêm ngặt.
- Việc xét xử của TAND có tính quyết định cuối cùng khi giải quyết các vụ việc pháp lý. Trong nhiều trường hợp, sau khi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền  đã giải quyết nhưng đương sự không đồng ý với cách giải quyết đó và yêu cầu TAND giải quyết, TAND có thể xem xét và quyết định. Quyết định của TAND có thể thay thế cho các quyết định đã được giải quyết trước đó và quyết định của TAND là quyết định cuối cùng.
- Hoạt động xét xử của TAND là hoạt động áp dụng pháp luật.
1.1.2. Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định:Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Do đó, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là:
Thứ nhất, bảo vệ công lý;
Thứ hai, bảo vệ quyền con người, quyền công dân;
Thứ ba, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành (Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014).
1.2. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
1.2.1. Các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo hướng: tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính.
Các Tòa án nhân dân sẽ được chia thành các cấp (Theo pháp luật hiện hành gồm 4 cấp: TAND tối cao; các TAND cấp cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; các Tòa án quân sự) và được quy định thẩm quyền xét xử riêng cho từng cấp, các tòa có thẩm quyền xét xử độc lập với nhau và không chịu sự chỉ đạo từ bất kì tòa nào.
1.2.2. Nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 102 Hiến pháp 2013 và Điều 6 Luật Tổ chức TAND năm 2014.
Nội dung của nguyên tắc: Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của TAND có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử theo trình tự phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, Hiến pháp 2013 đã quy định để bảo đảm việc thực hiện quyền tố tụng của bị cáo và đương sự được xét xử qua hai cấp: cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm. Đồng thời khi thực hiện chế độ hai cấp xét xử sẽ đưa thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm về đúng với bản chất là trình tự xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chứ không phải là cấp xét xử thứ ba.
1.2.3. Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán; bầu hoặc cử Hội thẩm nhân dân
- Về bổ nhiệm thẩm phán
Theo tinh thần của Nghị quyết số 719/2014/UBTVQH13 về: “Hướng dẫn thực hiện Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 64/2013/QH13 ngày 28/11/2013 của Quốc hội quy định một số điểm thi hành Hiến pháp nước CHXHCNVN”, nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán có hai điểm mới so với Hiến pháp năm 1992:
+ Thứ nhất, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án các cấp;
+  Thứ hai, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có thêm một thủ tục phê chuẩn của Quốc hội. Chánh án TANDTC trình Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn thẩm phán TANDTC; căn cứ vào Nghị quyết phê chuẩn của Quốc Hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán TANDTC, Chánh án, Phó Chánh án TAND các cấp địa phương, thẩm phán trung cấp, thẩm phán sơ cấp là 5 năm.
Việc thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán sẽ giúp cho Nhà nước chọn được những người có đủ tiêu chuẩn thực hiện chức năng xét xử của TAND.
- Đối với Hội thẩm nhân dân được thực hiện theo chế độ bầu hoặc cử
Hội thẩm Tòa án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp và do HĐND cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án TAND cùng cấp sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.
+  Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự quân khu và tương đương do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương.
+ Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự khu vực do Chính ủy quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương.
1.2.4. Nguyên tắc việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp 2013 và Điều 8 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014.
Hội thẩm là những người lao động sống và làm việc gần gũi với cuộc sống mọi mặt của nhân dân, thay mặt nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, sát với thực tế của vụ án. Do đó Hiến pháp quy định việc xét xử sơ thẩm có Hội thẩm nhân dân tham gia, tuy nhiên trừ những trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.  
Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được rút ngắn về thời gian tiến hành tố tụng và đơn giản hóa các thủ tục tố tụng. Những trường hợp được xét xử theo thủ tục rút gọn do pháp luật tố tụng quy định.
1.2.5. Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm …”, nguyên tắc này ra đời nhằm chống lại sự can thiệp của cơ quan, tổ chức, cá nhân vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm, đảm bảo cho các phán quyết của Tòa án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.
Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện:
+ Khi xét xử các vụ án ở trình tự tố tụng, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ căn cứ vào chứng cứ và các QPPL cần được áp dụng để giải quyết vụ việc và ra bản án, quyết định cụ thể, không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp của bất kì ai.
+ Khi xét xử, các thành viên trong Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc xác định chứng cứ, lựa chọn các QPPL cần được áp dụng để định tội và lượng hình đối với các vụ án hình sự, quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự trong các vụ án dân sự và các vụ án khác.
+ Đối với một số bản án có thể phải xét xử nhiều lần theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Đối với các bản án xét xử sơ thẩm thì không phải xin ý kiến chỉ đạo của Tòa án cấp trên. Ngược lại, khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không lệ thuộc vào chứng cứ, kết luận và quyết định của Tòa án đã xét xử sơ thẩm mà phải tự mình xác định chứng cứ, QPPL cần được áp dụng để có phán quyết cụ thể.
1.2.6. Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn
Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp 2013 và Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014.
 Xét xử là hoạt động đặc thù do Tòa án nhân dân thực hiện để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, việc xét xử của Tòa án phải khách quan, đúng pháp luật. Muốn có bản án, quyết định khách quan đúng pháp luật đòi hỏi phải phát huy trí tuệ tập thể. Do vậy khi xét xử các vụ án ở các trình tự tố tụng đều phải thành lập hội đồng xét xử, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
Các văn bản pháp luật tố tụng đã quy định cụ thể thành phần của hội đồng xét xử ở từng cấp xét xử:
+ Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Đối với bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt ở mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân.
+ Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có hai hội thẩm nhân dân.
+ Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của TANDTC gồm ba thẩm phán. Hội đồng thẩm phán TANDTC, ủy ban thẩm phán TAND Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì số thành viên tham gia xét xử phải chiếm hai phần ba tổng số thành viên của hội đồng thẩm phán hoặc ủy ban thẩm phán đó.
Nguyên tắc này đảm bảo cho Tòa án xét xử khách quan, toàn diện chống đọc đoán hoặc tùy tiện cá nhân. Để đạt được kết quả cao trong xét xử, các thành viên trong hội đồng xét xử phải tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ để phát huy trí tuệ của Hội đồng xét xử.
1.2.7. Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai
Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013 và Điều 11 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014.
Nội dung nguyên tắc được thể hiện:
- TAND xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.
- Các TAND phải có kế hoạch xét xử các vụ án. Kế hoạch xét xử phải niêm yết công khai tại trụ sở của Tòa án. Tòa án phải thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú và làm việc cuối cùng của bị cáo. Đồng thời Tòa án phải thông báo cho bị cáo, người bị hại (các vụ án hình sự), các đương sự và những người có liên quan đến vụ án biết về thời gian, địa điểm xử án. Đối với những vụ án quan trọng Tòa án phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết. Về nguyên tắc, việc xử án được thực hiên tại phòng xử án của Tòa án, nhưng Tòa án có thể xét xử lưu động tại nơi xảy ra vụ án đề tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
- Tại các phiên tòa, mọi công dân đủ 16 tuổi trở lên có quyền tham dự phiên tòa.
- Ngoài xét xử công khai, TAND có thể xét xử kín để giữ bí mật của Nhà nước, thuần phong, mĩ tục dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Mặc dù xét xử công khai hay xét xử kín thì khi tuyên án Tòa án đều phải tuyên án công khai.
Mục đích của nguyên tắc: Nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, đồng thời nâng cao công tác giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân, thu hút nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Hình phạt của các bản án, quyết định hình sự không chỉ nhằm trừng phạt, mà còn mục đích răn đe, phòng ngừa, giáo dục.
1.2.8. Nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
 Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013 và Điều 12 Luật tổ chức TAND 2014;
Nội dung nguyên tắc: Trong hoạt động xét xử của TAND phải tuân theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội, kể cả người nước ngoài, người không quốc tịch mà được Tòa án nhân dân xét xử.
Mọi tội phạm, mọi tranh chấp pháp lý do bất kì ai thực hiện đều phải được TAND xét xử công bằng, không thiên vị. Trong những điều kiện, hoàn cảnh như nhau mà hành vi vi phạm pháp luật hoặc phạm tội như nhau, tính chất, mức độ phạm tội như nhau, hậu quả do tội phạm gây ra như nhau thì Tòa án phải áp dụng các QPPL như nhau.
Mặt khác, khi xét xử TAND phải bảo đảm sự bình đẳng của mọi người về quyền và nghĩa vụ khi họ tham gia vào các thủ tục tố tụng do pháp luật tố tụng quy định.
1.2.9. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Để thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và  những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn quy định” (Nghị quyết 08/NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới),Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.
Tòa án đóng vai trò là quan tòa xem xét chứng cứ và sự tranh luận của các bên để đưa ra kết luận là có tội hay không có tội.
1.2.10. Trách nhiệm chứng minh tội phạm và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 14 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014.
Nội dung của nguyên tắc:
- Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
- Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm. Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; đương sự khác trong vụ án có quyền tự mình hoặc nhờ người bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
Trong trường hợp cần thiết, mặc dù bị cáo không yêu cầu nhưng Tòa án vẫn phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo. Đó là các trường hợp :
* Bị cáo có khuyết tật về thể chất và tinh thần;
* Bị cáo phạm tội nghiêm trọng mà hình phạt cao nhất là tử hình;
* Bị cáo là vị thành niên phạm tội.
1.2.11. Nguyên tắc mọi người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 15 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014.
Xuất phát từ thực tế nước ta có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ. Đồng thời Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế. Để thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc và đường lối đối ngoại, trong hoạt động xét xử của mình, TAND phải bảo đảm nguyên tắc người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án.
Nguyên tắc này đảm bảo cho các chủ thể tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, người bị hại, đương sự, người làm chứng…thể hiện đúng đắn và chính xác ý chí của mình khi tham gia tố tụng, đồng thời giúp cho Tòa án xét xử được chính xác, đúng sự thật khách quan của vụ án, nâng cao hiệu quả trong hoạt động xét xử.
1.2.12. Nguyên tắc Tòa án nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước
Chánh án TAND tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBTVQH và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội.
Tòa án nhân dân địa phương chịu sự giám sát của HĐND. Chánh án TAND địa phương báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp, trả lời chất vấn đại biểu HĐND cùng cấp.
1.3. Hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân
1.3.1. Tòa án nhân dân tối cao
- Về vị trí pháp lý
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn
Tòa án nhân dân tối cao có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
+ Giám đốc việc xét xử của các Toà án khác, trừ trường hợp do luật định;
+Tổng kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử;
+  Đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của Tòa án nhân dân.
+ Quản lý các Toà án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức theo quy định của Luật này và các luật có liên quan, bảo đảm độc lập giữa các Tòa án.
+ Trình Quốc hội dự án luật, dự thảo nghị quyết; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định của luật
- Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao
Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân bao gồm: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Bộ máy giúp việc; Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.
Trong đó thành phần của Tòa án nhân dân tối cao gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác, viên chức và người lao động.
+ Hội đồng thẩm phán TANDTC: Số lượng thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không dưới mười ba người và không quá mười bảy người; gồm Chánh án, các Phó Chánh án Tòa nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
+ Bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao:  Bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao gồm các vụ và các đơn vị tương đương. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tổ chức bộ máy; nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc (Điều 24 Luật Tổ chức TAND năm 2014).
+ Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Toà án nhân dân tối cao: Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của Tòa án nhân dân.
 Việc thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Toà án nhân dân tối cao được thực hiện theo quy định của luật (Theo Điều 25 Luật Tổ chức TAND năm 2014).
1.3.2. Tòa án nhân dân cấp cao
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án nhân dân cấp cao
+ Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.
+ Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.
Thành phần của Tòa án nhân dân cấp cao gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.
- Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp cao gồm:
+ Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm Chánh án, các Phó Chánh án là Thẩm phán cao cấp và một số Thẩm phán cao cấp do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao. Số lượng thành viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao không dưới mười một người và không quá mười ba người
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thẩm phán TANDTC: Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; Thảo luận, góp ý kiến đối với báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao về công tác của Tòa án nhân dân cấp cao để báo cáo Tòa án nhân dân tối cao.
+ Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên
Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp cao: Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp cao phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.
+ Bộ máy giúp việc: Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp cao gồm có Văn phòng và các đơn vị khác. Theo quy định của Luật Tổ chức TAND thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng, các đơn vị khác thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp cao.
1.3.3. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
-  Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
+ Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật.
+ Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
+ Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị.
+ Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.
- Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Điều 38 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định như sau:
+ Ủy ban Thẩm phán;
+ Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên.
Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ quy định tại điểm này và yêu cầu thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức các Tòa chuyên trách;
+ Bộ máy giúp việc.
- Thành phần của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động
1.3.4. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương bao gồm:
+ Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật.
+ Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật
- Về cơ cấu tổ chức: Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có thể có Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính. Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Ngoài ta Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương còn có Bộ máy giúp việc.
- Về thành phần:  Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương gồm có Chánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên về thi hành án, công chức khác và người lao động.
1.3.5. Tòa án quân sự
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự
Các Tòa án quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật.
- Về tổ chức Tòa án quân sự
+ Tòa án quân sự trung ương: được chia thành Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương; Tòa phúc thẩm Tòa án quân sự trung ương;  Bộ máy giúp việc.
+ Tòa án quân sự quân khu và tương đương: Ủy ban Thẩm phán; Bộ máy giúp việc.
+ Tòa án quân sự khu vực: Thành phần của Tòa án quân sự khu vực có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.
1.4. Thẩm phán, hội thẩm, thư ký Tòa án và thẩm tra
1.4.1. Thẩm phán
Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.
Các thẩm phán đều phải có tiêu chuẩn chung được quy định tại Điều 67 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
Căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng cấp Tòa án, trên cơ sở tiêu chuẩn chung của Thẩm phán, Luật Tổ chức TAND 2014 quy định tiêu chuẩn cụ thể của các ngạch thẩm phán gồm có Thẩm phán TANDTC, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp.
Trình tự, thủ tục bổ nhiệm Thẩm phán các cấp được thực hiện theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
1.4.2. Hội thẩm
Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND theo phân công của Chánh án Tòa án nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân.
Hội thẩm quân nhân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của TAQS theo sự phân công của Chánh án Tòa án nơi mình được cử làm Hội thẩm nhân dân.
1.4.3. Thư ký Tòa án
Thư ký Tòa án là người có trình độ cử nhân luật trở lên, được Tòa án tuyển dụng, được đào tạo nghiệp vụ Thư ký Tòa án và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án. Thư ký Tòa án có các ngạch sau: Thư ký viên, Thư ký viên chính, Thư ký viên cao cấp.
1.4.4. Thẩm tra viên
Thẩm tra viên là công chức chuyên môn của Tòa án đã làm thư ký Tòa án từ 05 năm trở lên, được đào tạo nghiệp vụ thẩm tra viên và bổ nhiệm vào ngạch Thẩm tra viên. Thẩm tra viên có các ngạch: Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính, Thẩm tra viên cao cấp.
2. Viện kiểm sát nhân dân
2.1. Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Như vậy, chức năng chính của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp.
2.1.1 Chức năng thực hành quyền công tố
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.  Đây là chức năng đặc thù của VKSND được Hiến pháp trao cho mà các cơ quan nhà nước khác không thể thay thế nhằm đảm bảo cho pháp luật về tư pháp được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:
+ Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;
+ Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.
2.1.2. Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật. (Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014).
- VKSND thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm các mục đích sau:
+ Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật;
+ Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ;
+ Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh;
+ Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.
- Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau đây:
+ Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
+ Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố;
+ Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự;
+ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự;
+ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
+ Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính;
+ Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền;
+ Kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp.
2.2. Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp 2013 và Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức VKSND 2014 thì:  “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
2.3. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân
2.3.1. Nguyên tắc tập trung thống nhất, lãnh đạo trong ngành
Nguyên tắc này được thể hiện ở những điểm sau đây:
- VKSND do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC.
- Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định trái pháp luật của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới.
- Tại VKSND tối cao; VKSND cấp cao; VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Viện kiểm sát quân sự trung ương; Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương thành lập Ủy ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng do luật định thuộc thẩm quyền của mình. Viện trưởng VKS các cấp chỉ quyết định những vấn đề được Luật tổ chức VKSND quy định cho VKS cấp mình không thuộc thẩm quyền của Ủy ban kiểm sát.
2.3.2. Nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất kì cơ quan nhà nước nào
Nguyên tắc này thể hiện ở những điểm sau đây:
+ Các VKS thực hành chức năng, nhiệm vụ của mình một cách độc lập, không chịu sự chi phối bởi bất kì cơ quan nhà nước nào ở địa phương mà chỉ chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Viện trưởng VKSNDTC. Khi hoạt động các VKS chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp, Luật và chỉ thị của Viện trưởng VKSNDTC. Điều này có nghĩa là các cơ quan nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động nghiệp vụ của VKS.
- Về mặt tổ chức: Viện trưởng VKSNDTC quyết định toàn bộ về biên chế, cũng như tổ chức của VKS các cấp. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Viện trưởng, phó viện trưởng, các kiểm sát viên của các VKS địa phương.
- Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND.
2.4. Cơ cấu tổ chức
2.4.1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Tổ chức bộ máy của VKSNDTC gồm có:
+ Ủy ban kiểm sát;
+ Văn phòng;
+ Cơ quan điều tra;
+ Các cục, vụ, viện và tương đương;
+ Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, các cơ quan báo chí và các đơn vị sự nghiệp công lập khác;
+ Viện kiểm sát quân sự trung ương.
- Thành phần của VKSNDTC gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng VKSNDTC, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Thủ trưởng, các Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; công chức khác, viên chức và người lao động khác.
- VKSNDTC có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
2.4.2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
- Tổ chức bộ máy của VKSND cấp cao gồm có:
+ Ủy ban kiểm sát;
+ Văn phòng;
+ Các viện và tương đương.
- Thành phần của VKSND cấp cao gồm có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.
- VKSND cấp cao có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao.
2.4.3. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh)
- Về tổ chức: Tổ chức bộ máy của VKSND cấp tỉnh gồm có:
+ Ủy ban kiểm sát;
+ Văn phòng;
+ Các phòng và tương đương.
- Thành phần của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.
- Nhiệm vụ: Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình.
2.4.4. Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện)
- Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có văn phòng và các phòng; những nơi chưa đủ điều kiện thành lập phòng thì có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.
- Thành phần của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.
2.4.5. Viện kiểm sát quân sự
 Các Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống VKSND được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong quân đội. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của quân đội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của quân nhân, công chức, viên chức và người lao động khác trong quân đội; bảo đảm mọi hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh…
- Hệ thống Viện kiểm sát quân sự bao gồm:
+ Viện kiểm sát quân sự trung ương.
+ Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương.
+ Viện kiểm sát quân sự khu vực.
* Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát quân sự trung ương
- Viện kiểm sát quân sự trung ương thuộc cơ cấu VKSNDTC. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có:
+ Ủy ban kiểm sát;
+ Văn phòng;
+ Cơ quan điều tra;
+ Các phòng và tương đương.
- Thành phần của Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Thủ trưởng, các Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức và người lao động khác.
* Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương
- Về tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương gồm có:
+ Ủy ban kiểm sát;
+ Các ban và bộ máy giúp việc.
- Về thành phần: Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức và người lao động khác.
* Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát quân sự khu vực
- Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát quân sự khu vực gồm có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.
- Về thành phần: Viện kiểm sát quân sự khu vực có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức và người lao động khác.
II. HỆ THỐNG CƠ QUAN TƯ PHÁP NƯỚC CHDCND LÀO
1. Tòa án nhân dân
1.1. Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
1.1.1. Chức năng của Tòa án nhân dân
Theo quy định tại Điều 90 Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 2015 thì Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp, chỉ có TAND mới có quyền xét xử ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Tòa án nhân dân xét xử cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và hủy bản án.
Mặt khác, Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2017 thì Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp có nhiệm vụ xét xử. Ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chỉ có Tòa án nhân dân mới có quyền xét xử trên cơ sở tôn trọng và thi hành pháp luật nghiêm minh.
Bên cạnh đó, theo Điều 17 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2017 thì Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp có vai trò thi hành, xem xét việc xét xử vụ án nhằm giáo dục, đào tạo công dân có tinh thần yêu nước, yêu chế độ dân chủ nhân dân, bảo vệ và phát triển lợi ích của cách mạng, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, cơ quan tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận lào xây dựng đất nước, tổ chức công chúng và tổ chức xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo sự công lý, trật tự an toàn xã hội, tăng cường pháp lí và ngăn chặn việc vi phạm pháp luật.
1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân
Điều 18 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2017 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân như sau:
Tòa án nhân dân có quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Giáo dục, hòa giải đương sự và xét xử vụ án;
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phát hiện, tìm ra nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội
- Tăng cường kiến thức về chính trị, ý thức tôn trọng và thi hành pháp luật của công dân
- Phối hợp với cơ quan trong nước và ngoài nước trong hoạt động thi hành nhiệm vụ của mình
- Quan hệ và hợp tác với cơ quan nước ngoài trong hoạt động tư pháp và pháp luật
- Tổng kết và thường xuyên báo cáo hoạt động và thi hành nhiệm vụ với cấp trên.
1.2. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động
Điều 8 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân Lào năm 2017 quy định về nguyên tắc ổ chức và hoạt động của Tòa án như sau:
- Đảm bảo sự công bằng của công dân trước pháp luật và Tòa án
Mọi công dân nước CHDCND Lào đều có sự bình đẳng trước pháp luật và Tòa án, không phần biệt giới tính, dân tộc, địa vị kinh tế và xã hội, tiếng nói, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tín ngưỡng, quê quán và bình đẳng khác.
Công dân Lào có quyền kiện cáo trước tòa về mâu thuẫn dân sự, và có quyền tố cáo trước cơ quan thẩm vấn – điều tra hoặc cơ quan Viện kiểm sát nhân dân khi có hành vi vi phạm hình sự.
Người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch lào ở tại lãnh thổ Lào cũng có quyền bằng công dân Lào trừ trường hợp luật quy định khác.
- Đảm bảo quyền của công dân trong việc chống án
Người bị can vụ án hình sự và đường sự trong vụ án dân sự có quyền tự mình chống án hoặc người bảo vệ hoặc luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Quy định về việc tham gia của luật sư, việc tiến hành vụ án hình sư, việc tiến hành vụ án trẻ em và luật tố tụng dân sự.
- Đảm bảo độc lập khi tiến hành vụ án
Trong việc thẩm vấn và án xem xét vụ án tòa có sự độc lập và thi hành theo pháp luật nghiêm minh
- Tôn trọng và thi hành pháp luật trong việc xét xử vụ án
Khi xét xử vụ án Tòa án phải căn cứ vào chứng minh và thực hiện theo pháp luật nghiêm chỉnh. Khi có vấn đề nào đó, nếu không được quy định trong pháp luật Tòa án phải xét xử vấn đề đó cho thuộc về nguyên tắc pháp lý và án lệ Tòa án. Đối với phạm tội nào đó không được quy định trong luật hình sự hoặc luật khác phạm tội đó thì Tòa án không được xét xử theo luật hình sự.
Bản án của Tòa án nhân dân tối cao về hành vi nào đó trong vụ án hình sự được luật quy định không rõ ràng, vụ án dân sự, thương mại, lao động, hành chính, gia đình và trẻ em luật không có quy định hoặc có quy định nhưng không rõ ràng trường hợp án lệ Tòa án nhân các cấp phải tuân thủ theo cho đến hành vi đó sẽ được quy định trong pháp luật. Đối với bản án của Tòa án bậc xóa bỏ của Tòa án nhân dân đó sẽ được án lệ trong trường hợp có lợi giới thiệu của Tòa án nhân dân tối cao.
- Đảm bảo xét xử vụ án tập thể
Hội đồng  xét xử của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố, Tòa án nhân dân khu vực và Tòa án nhân dân quân sự bao gồm: Người xét xử ba người, trong đó một người là thẩm phán và còn  hai người là hội thẩm trừ trường hợp vụ án giám nhẹ, có giá trị không lớn hoặc nguyên đơn và bị cáo biết rõ cho thẩm phán xét xử xem xét quyết định làm cấp sơ thẩm.
Quyết định của hội đồng Tòa án phải lấy theo đa số.
Việc xét xử vụ án phải đảm bảo bí mật.
Việc xét  xử vụ án chỉ do một mình thẩm phán được quy định trong các quy định riêng.
- Sử dụng tiếng Lào trong tiến hành vụ án
Khi tiến hành vụ án phải sử dụng ngôn ngữ Lào, người tham gia  khi tiến hành vụ án không biết tiếng Lào có quyền sử dụng ngôn ngữ của mình hoặc ngôn ngữ khác thông qua người phiên dịch ngôn ngữ.
- Đảm bảo việc xét xử vụ án tại phiên tòa phải tiến hành công khai
Việc xét xử vụ án ở hội nghị Tòa án phải tiến hành công khai trừ trường hợp mà vụ án có thuộc về bí mật của Nhà nước hoặc xã hội và vụ án trẻ em phải tiến hành bí mật.
- Tôn trọng và tổ chức thi hành nghiêm minh bản án đã có hiệu lực
Tòa án ra quyết định nhân danh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Phán quyết của Tòa án nhân dân mà đã có hiệu thực thì mọi cơ quan tổ chức của Đảng, cơ quan tổ chức của nhà nước, mặt trận lào xây dựng đất nước, tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và công dân Lào mọi người  phải tôn trọng ; cá nhân và tổ chức có liên kết phải thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định tại điều 98 Hiến pháp.
Bản án của Tòa án nhân dân mà đã có hiệu lực buộc phải thực hiện và không thể thay đổi bằng phương pháp nào cả trừ trường hợp đặc biết chẳng hạn như có chứng mình mới, mới có quyền đề xem xét lại vụ án theo quy định của pháp luật.
1.3. Hệ thng t chc Tòa án nhân dân
Điều 19 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2009 quy định: Hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân của nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân miền; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố và Tòa trẻ em; Tòa án nhân dân khu vực; Tòa án quân sự. Tòa án địa phương bao gồm: Tòa án nhân dân miền; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố; Tòa trẻ em; Tòa án nhân dân khu vực.
1.3.1. Tòa án nhân dân tối cao
* Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHDCND Lào có vai trò xét xử, quản lý về việc tổ chức, hành chính và kiểm soát chuyên môn, chỉ đạo việc hoạt động, việc thi hành của Tòa án nhân dân địa phương và tòa quân sự trong phạm vi cả nước
Tòa án nhân dân tối cao có trụ sở tại thủ đô Viêng Chăn.
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân tối cao có quyền và nhiệm vụ như sau:
- Xem xét cấp xoá bỏ đối với pháp luật vụ án mà Tòa án nhân dân cấp cao xem xét đó chỉ là cấp phục thẩm mà bị xoá bỏ do hai bên đương sự hoặc đề nghị phản đối do viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân đội;
- Xem xét hồi sinh lệnh, thẩm phán của Tòa án;          
- Phổ biến về nội quy Tòa án, giải thích nội dung của pháp luật trong khu vực mà mình chịu trách nhiệm cho Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự;
- Giới thiệu và kiểm tra tính đúng đắn chính xác và sự thống nhất về pháp luật trong việc xét xự vụ án của Tòa án nhân dân địa phương và quân sự;
- Nghiên cứu thẩm quyền của Tòa án trong toàn quốc;
- Xây dựng và tuyên truyền nghị quyết của hội đồng thẩm phán để Tòa án nhân dân các cấp và Tòa án quân sự hiểu và tổ chức thực hiện một cách chính xác;
- Chỉ đạo việc nghiên cứu và giới thiệu cơ cấu pháp luật kỷ luật khác và đề nghị diễn giải pháp luật cho Ban Thường trực Quốc hội xem xét;
- Chỉ đạo và quàn lý Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố, Tòa án trẻ em và Tòa án nhân dân khu vực tổ chức, quản lý
- Thực hiện các biện pháp cần thiết đối với vấn đề tổ chức cải tạo và hành chính toà án;
- Chỉ đạo việc bổ nhiệm thẩm phán, thư ký Tòa án và thành viên của Tòa án;
- Kiểm soát tổ chức thực hiện các công việc của Tòa án, nghiên cứu và kết luận việc thực hiện của Tòa án, tổ chức việc thống kê và các công việc khác của Tòa án;
- Liên hệ và hợp tác với nước ngoài về việc tư pháp và pháp luật;
- Kết luận, báo cáo việc hoạt động và việc thực hiện nhiệm vụ của mình với Quốc hội thường xuyên;
- Thực hiện quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Tòa án nhân dân cấp cao (Tòa án nhân dân miền)
* Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân cấp cao
Tòa án nhân dân cấp cao là một Tòa án trong hệ thống Tòa án nhân dân có vai trò thực hiện việc xét sự vụ án cấp phúc thẩm vụ án mà Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố, tòa trẻ em đã xét xử sơ thẩm mà bị hủy bỏ do đương sự kháng án hoặc đề nghị kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân;
Tòa án nhân dân cấp cao có trụ sở tại thủ đô hoặc tỉnh khác theo sử đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp cao
Tòa án nhân dân miền có quyền và nghĩa vụ như sau:
- Xét xử cấp phúc thẩm, lệnh ,quyết định và vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô và Tòa án trẻ em được xét xử mà bị kháng án do hai bên đương sự hoặc đề nghị kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân;
- Xem xét cấp hủy bỏ quyết định và vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô được xét xử cấp phúc thẩm mà bị kháng án do hai bên đương sự hoặc đề nghị kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân;
- Xét xử vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô để xét xử cấp phúc thẩm nếu thấy vụ án đó có sự quan trọng hoặc có sự khó khăn đặc biệt theo thủ tục mà phải có sự đồng ý của chánh án tòa tối cao;
- Mở rộng hướng dẫn về mặt pháp luật và phong tục Tòa án của Tòa án nhân dân tối cao cho Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô, Tòa án trẻ em và Tòa án nhân dân miền để đảm bảo sự đúng đắn và thống nhất trong thực hiện pháp luật;
- Quản lý về mặt tổ chức và hoạt động của mình, thanh tra về mặt chuyên môn của Tòa án nhân dân cấp dưới nằm ở trong trách nhiệm của mình;
- Nghiên cứu tổng hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ và thu nhập thống kê vụ án của Tòa án;
- Ra lệnh, quyết định và xét xử cho Tòa án nhân dân tối cao và viện kiểm sát nhân dân miền để thanh tra;
- Quan hệ và hợp tác với nước ngoài về công việc xét xử và pháp luật theo nhiệm vụ cấp trên giao cho;
- Kết luận, báo cáo hoạt động và thực hiện nhiệm vụ của mình với toà án nhân dân tối cao thường xuyên;
- Thực hiện quyền, nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
1.3.3. Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô và Tòa án trẻ em
* Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô và tòa trẻ em
Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô và Tòa án trẻ em là một Tòa án trong hệ thống Tòa án nhân dâ. Có chức năng xét xử bản án sơ thẩm không thuộc thẩm quyền của toa án nhân dân miền trong địa giới hành chính địa phương hoặc phiên tòa phúc thẩm vụ án của Tòa án nhân dân đã xét xử sơ thẩm;
Trong mỗi tỉnh, thủ đô có tổ chức Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô và Tòa án trẻ em; Đối với Tòa án trẻ em được tổ chức theo sự cho phép của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh, thủ đô và tòa trẻ em
- Xét xử, ra lệnh và quyết định sơ thẩm vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân vùng hoặc xét xử phiên tòa phúc thẩm, lệnh và vụ án Tòa án nhân dân vùng được quyết định nhưng được kháng án do hai bên thương sự hoặc đề nghị kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân;
- Xét xử vụ án nhận thấy là có sự quan trọng hoặc có sự khó khăn đặc biệt do Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm theo thủ tục mà phải có sự đông ý của chán án Tòa án;
- Hướng dẫn về mặt pháp luật và về mặt phong tục Tòa án của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân vùng để đảm bảo chính xác và thống nhất trong việc thực hiện pháp luật;
- Quản lý về mặt tổ chức, hoạt động của mình và kiểm soát về mặt chuyên môn của Tòa án nhân dân khu vực;
- Nghiên cứu tổng hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ công việc, thu nhập thống kê vụ án để trình bày cho Tòa án cấp trên;
- Gửi lệnh, quyết định và xét xử cho Tòa án nhân dân cấp trên và viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thủ đô;
- Gửi lệnh, quyết định và xét xử sử dụng của Tòa án cho phòng văn tổ chức thực hiện quyết định của Tòa án và nơi bắt giữ, nơi giam giữ, trung ương xử lý và cơ quan xử lý có liên quan đối với tội phạt tù;
- Quan hệ và hợp tác với nước ngoài về công việc xét xử và pháp luật theo quyết định của cấp trên;
- Kết luận, báo cáo hoạt động và thực hiện nhiệm vụ của mình với cấp trên thường xuyên;
- Áp dụng quyền và thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật;
- Đối với quyền và nghĩa vụ Tòa án trẻ em được quy định trong pháp luật về việc giải quyết vụ án trẻ em;
1.3.4. Tòa án nhân dân khu vực
* Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân khu vực
Tòa án nhân dân khu là một toà án trong hệ thống Tòa án nhân dân có chức năng xét xử sở thẩm ở trong khu vực thuộc thẩm quyèn của mình theo quy định của pháp luật.
Tòa án nhân dân khu vực thành lập ra trong thành phố, thị trấn, đô thị nhất định hoặc bao trùm nhiều thành phố, thị trấn, đô thị hợp nhau lại một khu theo trạng thái mở rộng về mặt kinh tế - xã hội, có vụ án xảy ra nhiều hoặc căn cứ hoàn cảnh địa lý, theo quyết định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Để tạo điều kiện thuân lợi cho nhân dân trong trình tự  giải quyết vụ án ở Tòa án được dễ hơn, có thể thành lập cơ quan của Tòa án nhân dân khu vực tại thành phố, thị trấn hoặc đô thị nhất định theo quyết định của Chánh án Tòa án nhân Dân tối cao.
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân khu vực
- Giáo dục đào tạo, hoà giải trong vụ án;
- Xét xử sơ thẩm các vụ án;
- Xét xử vụ án có giá trị không quá 300 000 000 kíp. Chia tài sản chung của vợ chồng và khoản nợ của vợ chồng;
- Vụ án hình sự, pháp luật được quy định tội cao nhất không quá 3 năm, ngoại trừ vụ án trẻ em phạm tội;
- Vụ án khác theo quy định của pháp luật;
- Quản lý về mặt tổ chức và hoạt động của mình;
- Nghiên cứu, tổng hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ, thu thập thống kê vụ án, để báo cáo Tòa án cấp trên;
- Ra quyết định, phán quyết và kết án cho viện kiểm sát và cơ quan viện kiểm sat nhân dân để kiểm tra;
Ra mệnh lệnh, quyết định, phán quyết, kết án được áp dụng quyết định của Tòa án cho cơ quan tổ chức quyết định của Tòa án và nơi bắt giữ, nơi giam giữ, nơi cải tạo và trại cải tạo liên quan đối với phạt tù;
- Báo cáo hoạt động và thực hiện nhiệm vụ của mình với cấp trên thường xuyên;
- Sủ dụng quyền và thực hiện nhiệm vụ khác được quy định trong pháp luật;
1.3.5. Tòa án quân sự
* Vị trí, vai trò của Tòa án quân sự
Tòa án quân sự là một cơ quan xét xử trong hệ thống Tòa án nhân dân nước CHNCND Lào. Có vai trò khởi tố, quyết định và xét xử vụ án hình sự đối với hành vi phạm tội, trong lĩnh vực trách nhiệm toàn diện của quân sự trong lực lượng vũ trang, bảo vệ quốc gia với sĩ quan và binh sĩ, công nhân có nghĩa vụ bảo vệ quốc gia với cá nhân ngoài quân đội trong lĩnh vực chiến lược quân sự và lĩnh vực quân đội của quân sự.
* Hệ thống tổ chức và cấp xét xử của Tòa án quân sự
- Tòa án quân sự bao gồm: Tòa án quần sự cấp cao và Tòa án quân sự miền.
Việc xem xét quyết định vụ án hình sự của Tòa án quân sự có 2 cấp: Sơ thẩm và phúc thẩm
Tòa án quân sự miền quyết định sơ thẩm, theo bằng chứng và pháp luật
Tòa án quân sự cấp cao, xét xử phúc thẩm theo bằng chứng và pháp luật đối với vụ án hình sự tại Tòa án quân sự miền khi xét xử sơ thẩm mà có kháng án do  các bên đương sự hoặc đề nghị kháng nghị của cơ quan Viện kiểm sát quân sự.
Đối vối bậc xoá bỏ phải xem xét ở Tòa án nhân dân cấp cao.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án quân sự
- Xét xử vụ án có quan hệ hành vi phạm tội hình sự của binh sĩ có nhiệm vụ bảo vệ quốc gia;
- Xét xử vụ án có quan hệ hành vi phạm tội hình sự của dự trữ, bảo vệ, du kích và cá nhân mà đang thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn đào tạo, tập luyện và sẵn sàng chiến đấu, hoạt động chiến đấu hoặc là tuần tra nhưng quân đội là người bảo vệ trực tiếp;
- Xét xử vụ án có quan hệ hành vi phạm tội của cá nhân ngoài quân đội, gây thiệt hại đối quốc phòng của quốc gia, điều bị mật của quân sự và với lợi ích của quân đội, cuộc sống, tài sản, sức khoẻ hoặc danh dự của sĩ quan và binh sĩ;
- Hệ thống tổ chức, quyền, nghĩa vụ và hoạt động công tác của Tòa án quân sự dược quy định trong pháp luật về Tòa án quân sự.
2. Viện kiểm sát nhân dân
2.1. Chc năng, nhim v ca vin kim sát nhân dân
2.1.1. Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Điều 99 Hiến pháp năm 2015 quy định: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát việc tôn trọng và thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội, lợi ích hợp pháp của công dân và truy tố các bị can lên Tòa án theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 9 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nước CHDCND Lào năm 2017 thì Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thanh tra của Nhà nước, có vai trò kiểm tra giám sát việc tôn trọng và thi hành pháp luật của các Bộ, Cơ quan, Mặt trận Lào xây dựng đất nước, tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội, cơ quan quản lí ở địa phương, doanh nghiệp, đảm bảo thi hành đúng quy định của pháp luật, thống nhất và truy tố bị can theo pháp luật.
2.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
- Giám sát việc tuân thủ theo pháp luật và tôn trọng pháp luật ,thống nhất của các bộ, cơ quan nhà nước tương đương với các bộ, Mặt trận xây dựng quốc gia, tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và công dân, giám sát gọi là giám sát chung;
- Giám sát thực thi pháp luật của cơ quan điều tra;
- Tiến hành điều tra một trường hợp là tất cả hoặc một phần theo quy định của pháp luật;
- Giám sát thực thi pháp luật trong xét xử vụ án;
- Kiểm sát thực hành mệnh lệnh, công lệnh, quyết định, phán quyết của Tòa án;
- Giám sát thực hành trong không gian hạn chế, địa điểm giảm giữ, trại cải tạo và địa điểm thực hành bắt buộc của Tòa án;
- Kiểm soát nghiên cứu đề nghị và tổ chức thực hành cho xã hội theo nghị định của Chủ tịch nước;
- Phối hợp với cơ quan điều tra và cơ quan khác tiến hành ngăn chặn hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật và loại bỏ nguyên nhân điều kiện để xẩy ra hành vi phạp tội xảy ra.
- Phục hồi vụ án theo pháp luật trong trường hợp có bằng chứng;
- Sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
2.2. Các nguyên tc tổ chc và hot đng
- Đảm bảo hiệu lực của pháp luật;
- Đảm bảo việc kiểm tra giám sát thi hành pháp luật;
- Đảm bảo sự chính xác, tư pháp, kịp thời và công khai thủ tục;
- Đảm bảo chế độ tập trung độc lập theo hàng và chế độ thủ trưởng;
- Đảm bảo cho người phạm tội phải chịu hình phạt theo luật và không áp dụng hình phạt đối với người không có tội;
- Đảm bảo việc phối hợp với đơn vị khác có liên quan trong việc thi hành công tác.
2.3. Hệ thng t chc vin kim sát nhân dân
Hệ thống tổ chức viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố, Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự.
2.3.1. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
* Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát tối cao của hệ thống cơ quan có vai trò chỉ đạo viện kiểm sát nhân dân cấp dưới và viện kiểm sát quân sự. Trong việc kiểm tra, kiểm sát thực hiện pháp luật và tự do trong cả nước.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật trong phạm vi cả nước;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của viện kiểm nhân dân cấp dưới và viện kiểm sát quân đội;
- Tuyên truyền, phổ biến nội dung của pháp luật trong phạm vi cả nước, có trách nhiệm và đáp ứng thông tin về pháp luật cho cơ quan viện kiểm sát nhân dân cấp dưới và viện kiểm sát nhân dân quân đội;
- Tạo điều kiện bảo vệ tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân viện kiểm sát nhân dân tối cao và viện kiểm sát nhân dân cấp dưới, viện kiểm sát quân sự;
- Tạo điều kiện đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ của viện kiểm sát nhân dân;
- Nghiên cứu và khái quát hoạt động công tác của viện kiểm sát nhân dân công việc thống kê vụ án người phạm tội gây ra và người phạm tội trong cả nước;
- Phối hợp với các  đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan quan trong việc thực hiện nhiệm vụ của công việc của mình;
- Quan hệ và hợp tác với nước khác về việc pháp luật và công bằng;
- Sử dụng quyền và thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật;
2.3.2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (Viện kiểm sát nhân dân miền)
* Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
Cơ quan viện kiểm sát nhân dân cấp cao là một cơ quan trong hệ thống cơ quan viện kiểm sát nhân dân có vài trò, chức năng kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật cho và tự do trong phạm vi địa giới hành chính thuộc thẩm quyền của mình;
Cơ quan viện kiểm sát nhân dân miền thành lập ở miền, bắc miền trung, miền nam của nước CHNCND Lào;
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
- Kiểm sát việc tuân thủ pháp luật;
- Kiểm sát thực  hiện chức năng của cơ quan viện kiểm sát của tỉnh, thủ đô;
- Giới thiệu và cung cấp thông tin pháp lý cho viện kiểm sát tỉnh và thủ đô;
- Kiểm sát, quản lý cơ cấu tổ chức và phong trào của cơ quan viện kiểm sát của mình;
- Nghiên cứu và tóm tắt, báo cáo về thực hiện nhiệm vụ của viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thủ đô việc thống kê người bị giam giữ, người bị cải tạo và phạt tù;
- Sử dụng quyền và thực hiện chức năng khác theo quy định của pháp luật;
2.3.3. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thủ đô (Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh)
* Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thủ đô
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thủ đô là một cơ quan trong hệ thống cơ quan kiểm sát của nước CHDCND Lào, có chức năng thực hiện một số nhiệm vụ kiểm sát thực hiện pháp luật và thống nhất trong phạm vị của tỉnh, thủ đô và truy tố bị can.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thủ đô
- Kiểm sát việc tuân thủ của pháp luật;
- Kiểm sát sự tuân thủ chức năng của viện kiểm sát nhân dân khu vực;
- Giới thiệu và cung cấp thông tin pháp lý cho viện kiểm sát nhân dân khu vực;
- Kiểm sát, quản lý cơ cấu tổ chức và phong trao của cơ quan viên kiểm sát của mình và cơ quan viên kiểm sát khu vực;
- Nghiên cứu và tóm tắt, báo cáo về nhiệm vụ hiệu suất của cơ quan viện kiểm sát nhân dân khu vực, công việc hình sự, người bị giam giữ và tù nhân;
- Sử dụng quyền và thực hiện chức năng khác theo quy định của pháp luật;
2.3.4. Viện kiểm sát nhân dân khu vực
* Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân khu vực
Viện kiểm sát nhân dân khu vực là một cơ quan trong hệ thống viện kiểm sát nhân dân, có nhiệm vụ kiểm sát thực hiện pháp luật và thống nhất trong phạm vị trách nhiệm của mình và kháng nghị lệnh toà án sơ thẩm;
 Viện kiểm sát nhân dân thành lập cho nhiều huyện, thị xã, thành phổ hợp nhất theo hoàn cảnh địa lí sự phát triển-xã hội hoặc có vụ án xảy ra;
 Huyện, thị xã, thành phổ nào có điều kiện đẩy đủ có thể lập viện kiểm sát nhân dân.
 Đối với huyện, thị xã, thành phố không có viện kiểm sát nhân dân nằm ở đó cho các cán bộ viện kiểm sát nhân dân hoặc cán bộ kỹ thuật pháp luật của viện kiểm sát nhân dân lãnh thổ số lượng 03 đến 05 người thường trực theo bộ nhiệm Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện quyền và nghĩa vụ của viện kiểm sát nhân dân tại khu vực đó theo quy định trong pháp luật;
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khu vực
- Kiểm sát thực hiện pháp luật;
- Tạo điều kiện giám sát quản lý về mặt tổ chức và hoạt động;
- Nghiên cứu và tổng hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ công việc, thu thập thống kể vụ án, người bị giam giữ và tội phạm;
- Áp dụng quyền và thực hiện nhiệm vụ khác theo như quy định pháp luật.
2.3.5. Viện kiểm sát quân sự
Viện kiểm sát quân sự  là một cơ quan trong hệ thống viện kiểm sát nhân dân mà có hệ thống tổ chức, vị trị, nghĩa vụ, quyền và nghĩa vụ, nhân sự theo như quy định trong pháp luật về cơ quan viện kiểm sát quân đội.
III. VÀI NÉT SO SÁNH HỆ THỐNG CƠ QUAN TƯ PHÁP CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM VÀ NƯỚC CHDCND LÀO
 Về cơ bản hệ thống cơ quan tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào có nét tương đồng. Cụ thể:
1. Tòa án nhân dân
Cả hai quốc gia đều quy định Tòa án nhân dân là cơ quan có chức năng xét xử và có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Điểm khác về hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân giữa Việt Nam và Lào thể hiện qua cơ cấu tổ chức của Tòa án của từng quốc gia. Hiện nay, hệ thống Tòa án nước Việt Nam gồm có Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự. Còn hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân nước Lào hiện nay bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân miền, Tòa án nhân  dân tỉnh, thủ đô, Tòa án trẻ em, Tòa án khu vực, Tòa án quân sự.
2. Viện kiểm sát nhân dân
Pháp luật cả Việt Nam và Lào đều quy định vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tương tự nhau đó là hệ thống cơ quan độc lập và thống nhất,  thực hành quyền công tố và giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp.
Điểm khác về hệ thống tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân giữa Việt Nam và Lào thể hiện qua cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát của từng quốc gia. Hiện nay, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân nước Việt Nam gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện), Viện kiểm sát quân sự các cấp. Còn hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân nước Lào gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân miền, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố, Viện kiểm sát khu vực, Viện kiểm sát quân sự.
Trong 56 năm qua, kể từ ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước đang ngày càng được củng cố và phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tư pháp hai nước. Đó là mối quan hệ phát triển bền vững từ quan hệ truyền thống thân thiết trở thành quan hệ đặc biệt hai Nhà nước dày công vun đắp./.

Tác giả bài viết: Nhóm tác giả: Lớp LK2E; Ths. Hoàng Thị Kim Cương; CN. Đặng Thị Thanh Huyền; CN. Phạm Anh Vũ
 

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website

Video

Trường Trung cấp Luật Đồng Hới- Quảng Bình