06:45 ICT Thứ sáu, 19/10/2018
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
  • Chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
     
 

Chuyên mục

thành viên

Lượt truy cập

  • Đang truy cập: 67
  • Khách viếng thăm: 66
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 454
  • Tháng hiện tại: 45104
  • Tổng lượt truy cập: 1649846

Trang nhất » Tư vấn pháp luật

Lên phía trên
Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Câu hỏi:

Pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính?

Trả lời:
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính như sau:
“Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;
3. Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;
4. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh;
5. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;
6. Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất;
7. Áp dụng thủ tục hải quan;
8. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
9. Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
10. Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;
11. Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;
12. Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định.”
Điều 14 quy định cụ thể về cơ quan có trách nhiệm bồi thường gồm:
“1. Cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
2. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường được xác định như sau:
a) Trường hợp cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
b) Trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời điểm gây ra thiệt hại;
c) Trường hợp có sự uỷ quyền hoặc uỷ thác thực hiện công vụ thì cơ quan uỷ quyền hoặc cơ quan uỷ thác là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp cơ quan được ủy quyền, cơ quan nhận ủy thác thực hiện không đúng nội dung ủy quyền, ủy thác gây thiệt hại thì cơ quan này là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
d) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
đ) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc cơ quan trung ương và cơ quan địa phương cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan trung ương là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.”

Trích bởi :hoidapphapluat-Bộ Tư pháp
Lên phía trên
Lấy lại sổ đỏ cho mượn để thế chấp ngân hàng
Câu hỏi:

Lấy lại sổ đỏ cho mượn để thế chấp ngân hàng

Trả lời:
Tóm tắt câu hỏi:

Xin luật sư giúp tôi. Năm 2014 tôi có uỷ quyền cho một người quen một sổ đỏ nhà ở để thế chấp ngân hàng. Nhưng tôi không giữ giấy uỷ quyền nào. Bây giờ luật sư giúp tôi phải làm sao để có thể lấy lại được sổ đỏ nhà ở được. Hiện sổ đỏ đang ở ngân hàng. Tôi vô cùng lo lắng và không biết phải làm sao?

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ Điều 581 Bộ luật dân sự 2005 quy định hợp đồng ủy quyền như sau: “Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Trong trường hợp của bạn, bạn cho người quen mượn sổ đỏ để thế chấp tại ngân hàng. Trên sổ đỏ đứng tên bạn, tuy nhiên bạn đã có giấy ủy quyền cho người quen của bạn, như vậy người quen của bạn có quyền sử dụng sổ đỏ để thế chấp tại ngân hàng vay tiền.

Điều 342 Bộ luật Dân sự 2005 quy định thế chấp tài sản như sau:

"1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

Lên phía trên
Con nuôi có được hưởng thừa kế?
Câu hỏi:

Bà không có gia đình và nhận chồng tôi làm con nuôi. Hiện tại, bà đang ốm nặng. Vợ chồng tôi vẫn đang chăm sóc cho bà. Vậy khi bà mất thì việc thừa kế sẽ như thế nào? Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ ra sao?

Trả lời:
Việc hưởng thừa kế không có sự phân biệt giữa con nuôi, con đẻ hay con ngoài giá thú. Vì vậy, trong trường hợp này chồng bạn có quyền được hưởng thừa kế của bà. Khi bà mất không có di chúc, tài sản của bà sẽ được chia theo pháp luật. Theo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn là con nuôi của bà và bà không có chồng con nên chồng bạn là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015.
Khi bà mất, để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên chồng bạn, trước hết chồng bạn phải làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi thành phố nơi có bất động sản theo quy định tại Điều 58 Luật công chứng 2014. Sau khi đã hoàn tất thủ tục, chồng bạn thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất sang tên mình.
Lên phía trên
Tài sản được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân
Câu hỏi:

Hai vợ chồng em đăng ký kết hôn năm 2005. Năm 2013, bố mẹ chồng em chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên cho vợ chồng em (mảnh đất này của bố mẹ chồng em mua năm 1993). Năm 2016, vợ chồng em xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly hôn. Em yêu cầu chia đôi mảnh đất mỗi người một nửa, nhưng gia đình chồng em không nhất trí. Xin hỏi, trường hợp này, tài sản đó có được coi là tài sản chung của vợ chồng em không?

Trả lời:
Khoản 1 Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Căn cứ vào quy định nêu trên và các thông tin mà bạn cung cấp thì quyền sử dụng đất đang đứng tên hai vợ chồng bạn là quyền sử dụng đất do bố mẹ chồng bạn chuyển nhượng cho hai vợ chồng bạn và là tài sản có sau khi kết hôn.
Do vậy, đó là tài sản chung của hai vợ chồng bạn.
Lên phía trên
Quy trình giải quyết vụ án hình sự
Câu hỏi:

Tôi bị một người cạnh phòng trọ hiếp dâm 2 lần và tôi có bằng chứng là đoạn ghi âm kẻ đó nhận tội và cầu xin tôi không kiện cáo. Tôi đã gửi đơn tố cáo lên cơ quan công an kèm đoạn ghi âm, tôi cũng nếu rõ tên tuổi quê quán, nơi làm việc và nơi ở hiện tại của kẻ đó.
Vậy cho tôi hỏi sau khi tôi gửi đơn tố cáo bao nhiêu lâu thì vụ án được đưa ra xét xử và quy trình từ lúc bắt đầu tôi nộp đơn tới lúc kết thúc là như thế nào?

Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì quy trình giải quyết một vụ án hình sự thông thường bao gồm các giai đoạn sau đây:
1. Khởi tố vụ án hình sự
Khi có các căn cứ quy định tại Điều 100 và xác định thấy có dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan điều tra phải tiến hành khởi tố vụ án hình sự. Riêng đối với tội hiếp dâm, theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự thì vụ án về tội phạm hiếp dâm quy định tại Điều 111 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
Về thời hạn, theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng.
2. Điều tra
Theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Bộ luật tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Thời hạn điều tra vụ án hính sự được quy định tại Điều 119 của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
- Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
- Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì thời hạn điều tra được gia hạn như sau:
+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 2 tháng;
+ Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 2 lần, lần thứ nhất không quá 3 tháng và lần thứ hai không quá 2 tháng;
+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 4 tháng;
+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 4 tháng.
Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
Khi kết thúc điều tra, nếu đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can, người bào chữa.
3. Truy tố
Theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, nếu xác định có tội phạm và bị can, Viện kiểm sát phải sẽ ra quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
4. Xét xử sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 176 của Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 2 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, nếu đủ căn cứ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên sẽ ra quyết định ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong thời hạn 15 ngày đưa vụ án ra xét xử. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 15  ngày đối với tội phạm, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày.

 

 

 

Các văn bản liên quan:

Bộ luật 15/1999/QH10 Hình sự (Hết hiệu lực một phần)

Bộ luật 19/2003/QH11 Tố tụng hình sự (Còn hiệu lực)

Lên phía trên
Tranh chấp đất đai do hành vi lấn đất
Câu hỏi:

Năm 2015, tôi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông M. Việc đo đạc và đóng trụ ranh giới thửa đất do ông M và cán bộ địa chính thực hiện. Năm 2016, khi tôi xây nhà, Ông M có đến đo lại đất lần nữa nhưng không có ý kiến phản đối. Trong khi tôi đang thi công xây dựng nhà, ông M có trở lại nói rằng tôi xây nhà đã lấn qua phần đất còn lại của ông (tôi chưa thay đổi diện tích nhà lần nào). Hỏi: Ông M có quyền thưa kiện và đập bỏ tường nhà tôi không?

Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai 2013, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Trong trường hợp này, bạn và ông M phát sinh tranh chấp từ việc ông M cho rằng bạn đã lấn đất (tự ý dịch chuyển ranh giới thửa đất của bạn để mở rộng diện tích).
Đối với các tranh chấp về đất đai, pháp luật đất đai khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Nếu hoà giải không thành thì các bên có quyền gửi đơn tới Toà án để giải quyết.
Theo Khoản 9, Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Đôi với hành vi này ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật, người có hành vi vi phạm còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho người bị thiệt hại, có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại đất đã lấn (Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai).
Do đó, trường hợp của bạn nếu xác định việc sử dụng đất của bạn có lấn đất của ông M thì hai bên có thể thỏa thuận theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không thỏa thuận được ông M có thể khởi kiện bạn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nếu Tòa án xác định việc sử dụng đất của bạn không lấn đất của ông M thì ông M không có quyền đập bỏ tường nhà bạn và lấy lại đất.
 Các văn bản liên quan:
- Bộ luật Dân sự 2015.
- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
- Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Lên phía trên
Tặng cho quyền sử dụng cho cháu (Câu hỏi 03/7/2017)
Câu hỏi:

Bà nội tôi muốn tặng cho quyền sử dụng nhà, đất hiện tại cho cháu nội là tôi. Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất đứng tên của một mình bà. Nhà ở hiện tại do Nhà nước cấp vào năm 1983. Ông nội và bà nội tôi sống chung nhưng không có đăng kí kết hôn và có 3 người con chung (nay cả 3 người đã mất).
Hỏi:
1. Hiện nay, bà nội muốn tặng cho quyền sử dụng đất cho tôi thì có cần phải có sự đồng ý của ông nội tôi hay không?
2. Khi làm thủ tục thì có cần đến sự đồng thuận của các con riêng của ông hay không? (Do ông nội tôi sau đó cũng có 2 con trai với người khác).

Trả lời:
1. Vì Bạn không nói thời điểm sống chung nên giả định thời điểm sống chung của Ông nội và bà nội trước năm 1983. Theo quy định tại Khoản 4, Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì ông bà nội bạn xác định là Người đang có vợ hoặc có chồng.
4. “Người đang có vợ hoặc có chồng quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”.
Như vậy, xác định quan hệ của ông bà nội bạn là quan hệ vợ chồng thực tế được pháp luật thừa nhận. Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Quyền sử dụng nhà, đất hiện tại được Nhà nước cấp năm 1983 xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, bà nội muốn tặng cho quyền sử dụng đất cho bạn thì có cần phải có sự đồng ý của ông nội.
2. Khi làm thủ tục thì không cần đến sự đồng thuận của các con riêng của ông. Bởi vì đất này được xác lập là tài sản chung ông bà nội bạn.
Các văn bản liên quan:
- Bộ luật Dân sự 2015.
- Luật Đất đai năm 2013.
- Luật Hôn nhân và Gia đình 1959.
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Lên phía trên
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Câu hỏi:

Ông, bà nội tôi có một mảnh đất 1000 m2. Hiện nay, ông bà cho tôi một phần và em con chú tôi 2 phần. Gia đình ông nội và các cô chú bác đã họp gia đình thống nhất cho chúng tôi. Văn phòng đăng ký đất đai đã đo, chỉnh lý biến động xong.
Hỏi: Cần làm một hợp đồng hay hai hợp đồng cho 02 anh em?

Trả lời:
Trả lời:
Dựa trên các thông tin mà bạn cung cấp thì trường hợp đất của ông, bà nội bạn sau khi thống nhất với các thành viên trong gia đình xác định cho bạn và em con chú. Gia đình bạn đã làm thủ tục để đo, chỉnh lý biến động xong, hoàn thành thủ tục tách thành 02 thửa, chúng tôi tư vấn như sau:
Căn cứ Điểm a, d, Khoản 3, Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định:
“a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp xã.”
Trong trường hợp này, bạn lập hai hợp đồng tặng cho (01 hợp đồng Ông, bà nội tặng cho bạn và 01 hợp đồng ông, bà nội tặng cho em con chú bạn), hợp đồng được lập thành văn bản và phải có chứng thực tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất hoặc công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng.
Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Đất đai là một loại bất động sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, do đó bạn lưu ý làm thủ tục đăng ký tại Văn phòng Đăng ký đất đai sau khi hợp đồng đã được công chứng hoặc chứng thực. Đối với bất động sản được tặng cho giữa ông nội, bà nội với cháu nội cần có một số giấy tờ sau: Bản sao Giấy khai sinh của cháu nội và bản sao Giấy khai sinh của bố cháu nội; hoặc bản sao Sổ hộ khẩu có thể hiện mối quan hệ giữa ông nội, bà nội với cháu nội.
Thu nhập từ nhận quà tặng là bất động sản giữa ông nội, bà nội với cháu nội thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Dân sự 2015.
2. Luật Đất đai 2013.
3. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
4. Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung 2014).
Lên phía trên
Sai tên và năm sinh trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Câu hỏi:

Tôi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người khác làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới phát hiện tên và năm sinh bị sai so với chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu. Tôi bị mất giấy khai sinh từ lâu.
Hỏi: Tôi có thể đính chính lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được không?

Trả lời:
Trả lời:
Với câu hỏi của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:
(i) Các trường hợp đính chính Giấy chứng nhận
 Căn cứ Khoản 1, Điều 106 Luật Đất đai 2013 quy định về việc đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sỡ hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình (gọi chung là Giấy chứng nhận) đã cấp như sau: “Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:
a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận”.
Bạn thuộc trường hợp có sai sót thông tin về tên gọi, năm sinh của người sử dụng đất so với giấy tờ nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận. Trường hợp này, bạn được phép đính chính lại Giấy chứng nhận.
(ii) Thủ tục đính chính Giấy chứng nhận đã cấp
Khoản 1, Điều 86 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013: “Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót cho Văn phòng đăng ký đất đai để đính chính. Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính”.
Đồng thời, theo hướng dẫn tại Khoản 3, Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khi thực hiện thủ tục đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn phải chuẩn bị những hồ sơ sau:
“a) Đơn đề nghị đính chính đối với trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản phát hiện sai sót trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp;
b) Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp”.
Như vậy, khi phát hiện phần tên chủ sử dụng có sai sót, bạn làm đơn đề nghị đính chính gửi tới Văn phòng Đăng ký đất đai cấp huyện, kèm theo đơn là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ khác chứng minh thông tin có sai lệch (như trong trường hợp của bạn bị sai tên thì cần nộp Chứng minh nhân dân, hộ khẩu) để đề nghị giải quyết. Văn phòng Đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra; lập biên bản kết luận về nội dung và nguyên nhân sai sót; lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp có sai sót; đồng thời chỉnh lý nội dung sai sót vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Đất đai 2013.
2. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013.
3. Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính.
4. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Lên phía trên
Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ
Câu hỏi:

Theo quy định của Điều 7 và Điều 7a Luật Thi hành án dân sự 2014, người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền: “Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ”. Vậy, căn cứ nào cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ?

Trả lời:
Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên là một trong những quyền của người được thi hành án và người phải thi hành án qui định tại Điều 7 và 7a luật THADS 2014. Để có căn cứ yêu cầu thay đổi Chấp hành viên, người được thi hành án và người phải thi hành án phải chứng minh Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10, Nghị định 62/2015 hướng dẫn: “Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp sau đây:
a) Thuộc trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều 21 Luật Thi hành án dân sự;
b) Chấp hành viên đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng trong cùng vụ án đó;
c) Chấp hành viên chậm trễ giải quyết việc thi hành án;
d) Có căn cứ khác cho rằng Chấp hành viên không vô tư trong khi làm nhiệm vụ”.
Theo hướng dẫn này, thì người được thi hành án và người phải thi hành án yêu cầu thay đổi Chấp hành viên, khi Chấp hành viên thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:
- Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;
- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì;  Chấp hành viên đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng trong cùng vụ án đó; Chấp hành viên chậm trễ giải quyết việc thi hành án; Có căn cứ khác cho rằng Chấp hành viên không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Hướng dẫn này mở rộng quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên của người được thi hành án và người phải thi hành án, không bị bó hẹp trong phạm vi “có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ”. Đây là một trong những trường hợp mà người được thi hành án và người phải thi hành án để yêu cầu thay đổi Chấp hành viên.
Tuy nhiên, như thế nào là “có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ” đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành.
Tài liệu tham khảo:
Luật Thi Hành án dân sự 2014
Nghị định 62/2015/NĐ-CP,  ngày 18 tháng 07 năm 2015 nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
 

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website

Video

Trường Trung cấp Luật Đồng Hới- Quảng Bình